Trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, việc bảo vệ dữ liệu cá nhân ngày càng trở nên quan trọng nhằm đảm bảo quyền lợi và sự an toàn cho người dùng. Các quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân đã được ban hành nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ.
Trong phạm vi bài viết này, VDPC sẽ làm rõ Điều kiện cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân, dựa trên các quy định của pháp luật.
I. Điều kiện doanh nghiệp được phép cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân
Căn cứ: Khoản 2 Điều 33, Khoản 2 Điều 38 Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 Điều 42 Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân Dự thảo lần 3 Khoản 1 Điều 42 Quy định bảo vệ dữ liệu chung của Liên minh Châu Âu
1. Tại Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 (theo Dự thảo lần 4 – 26/06/2025) được thông qua hiện chưa có quy định cụ thể về điều kiện để doanh nghiệp được cấp phép cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân. Điều kiện chi tiết sẽ được quy định tại Nghị định hướng dẫn.
2. Tại Dự thảo lần 3 (08/05/2025) có đề cập tới điều kiện kinh doanh dịch vụ tổ chức bảo vệ dữ liệu cá nhân bao gồm các điều kiện như sau:
– Là tổ chức bảo vệ dữ liệu cá nhân.
– Có xếp hạng tín nhiệm về bảo vệ dữ liệu cá nhân tối thiểu ở mức Tín nhiệm.
Ngoài ra theo tham khảo quy định về Chứng nhận Bảo vệ dữ liệu Châu Âu của GDPR, chứng nhận này không bắt buộc với các tổ chức nắm dữ liệu, tuy nhiên chứng nhận này được khuyến khích nhằm mục đích chứng tỏ sự tuân thủ các quy tắc, quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân của GDPR, từ đó có thể tăng uy tín cho tổ chức.
II. Chứng nhận đủ điều kiện năng lực bảo vệ dữ liệu cá nhân được cấp cho doanh nghiệp
Căn cứ: Khoản 2 Điều 41 Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân Dự thảo lần 3
Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 (theo Dự thảo lần 4 – 26/06/2025) đã được thông qua không quy định cụ thể về Chứng chỉ được cấp cho doanh nghiệp hoạt động, kinh doanh dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân đủ điều kiện nhưng tại Dự thảo lần 3 (08/05/2025) có đề cập tới, cụ thể:
– Các tổ chức, doanh nghiệp muốn kinh doanh dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân có thể được cấp chứng nhận đủ điều kiện năng lực bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định. Trong đó, chứng nhận đủ điều kiện năng lực bảo vệ dữ liệu cá nhân là chứng chỉ được cấp bởi cơ quan chuyên trách cho tổ chức, doanh nghiệp muốn trở thành Tổ chức bảo vệ dữ liệu cá nhân đạt đủ điều kiện năng lực công nghệ và pháp lý.
– Các yếu tố khác như thời hạn của chứng nhận chưa được đề cập tới và có thể sẽ được quy định chi tiết hơn tại các văn bản hướng dẫn, các Nghị định sau này liên quan tới Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân.
III. Trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân
Căn cứ: Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025
1. Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 (theo Dự thảo lần 4 – 26/06/2025) được thông qua chưa có quy định cụ thể về các trách nhiệm của tổ chức khi kinh doanh, cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân.
2. Tuy nhiên do công việc bảo vệ dữ liệu cá nhân đóng vai trò quan trọng trong quá trình xử lý và kiểm soát dữ liệu của các doanh nghiệp, tổ chức (Bên xử lý dữ liệu, Bên kiểm soát dữ liệu), vậy nên trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân có thể bao gồm một số trách nhiệm tương ứng với một số trách nhiệm của Bên xử lý dữ liệu, Bên Kiểm soát dữ liệu như sau:
– Thực hiện bảo vệ dữ liệu cá nhân theo hợp đồng ký kết.
– Thực hiện biện pháp quản lý, kỹ thuật phù hợp để bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định.
– Thông báo hành vi vi phạm về bảo vệ dữ liệu cá nhân cho cơ quan chuyên trách.
– Ngăn chặn hoạt động thu thập dữ liệu cá nhân trái phép.
– Phối hợp với Bộ Công an, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong bảo vệ dữ liệu cá nhân, cung cấp thông tin phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
IV. Thủ tục doanh nghiệp được phép cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân
Căn cứ: Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025
Dự thảo lần 3 (08/05/2025) có quy định liên quan tới việc doanh nghiệp có thể hoạt động kinh doanh dịch vụ tổ chức về bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhưng cả Dự thảo lần 3 và Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 (theo Dự thảo lần 4 – 26/06/2025) được thông qua đều chưa có quy định cụ thể về thủ tục để doanh nghiệp có thể đăng ký việc kinh doanh, cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân.
V. Kết luận
Việc tuân thủ các điều kiện cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân không chỉ giúp các tổ chức, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu pháp lý mà còn góp phần xây dựng lòng tin với người dùng.
Trên đây là nội dung tư vấn về Điều kiện cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân. Nếu bạn còn thắc mắc liên quan đến vấn đề này, hãy liên hệ với VDPC để được tư vấn, hỗ trợ một cách chính xác nhất.
Trân trọng cảm ơn!
Zalo: 090.225.5492
Xem thêm:
- Mỗi tổ chức, doanh nghiệp phải có chuyên gia bảo vệ dữ liệu cá nhân theo dự thảo Luật Bảo vệ Dữ liệu cá nhân
- Thay đổi về thủ tục thông báo đánh giá tác động về chuyển dữ liệu cá nhân ra nước ngoài theo dự thảo Luật Bảo vệ Dữ liệu cá nhân
- Đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp theo Dự thảo Luật bảo vệ Dữ liệu cá nhân
- Thay đổi về thủ tục thông báo đánh giá tác động về chuyển dữ liệu cá nhân ra nước ngoài theo dự thảo Luật Bảo vệ Dữ liệu cá nhân


Hotline: 0981595243